QUÁ TRÌNH DỰNG XÂY VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG HỒ HIỆN NAY (2010)

 

Phần một:

 

Trấn Hà Tiên do họ Mạc và nhân dân lưu tán thuộc ba dân tộc: Kinh, Hoa, Khơmer và một số ít các tộc người khác chung tay xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 18.

1. Theo Mạc Thị Gia phả (trang 43. NXB Giáo dục trích) … “Bấy giờ Hiếu Vũ Hoàng Đế (1) triều ta đã cắt đứt quan hệ triều công với Giao Châu (2), mở mang cơ đồ thống nhất, định đặt lễ nhạc, khôi phục phép tắc, thay đổi trang phục theo như quy chế phẩm phục nhà Hán, xuống lệnh cho ông (3) tuân theo thi hành. Ông vui vẽ vâng lệnh trên, may áo mũ, mở trường học, phong tục trở nên đầy đủ, tốt đẹp. Các nước Man, Lào hay tin thảy đều khâm phục nể sợ”. (hết trích).

Phụ dẫn:

(1) Hiếu Vũ Hoàng Đế: niên hiệu của Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765).

(2) Giao Châu: chỉ chính quyền Lê-Trịnh, Đàng ngoài.

          (3) Ông: tức Mạc Thiên Tích (Tứ)

2. Theo Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức, trang 136 - “Cương Vực Chí”).

… “Tân Mùi, Gia long năm thứ 10 (1811) … “Bấy giờ Minh Đức Hầu (Bùi Văn Minh) sửa sang quân nha, trại quân, gọi dân lưu tán trở về, gọi người đến buôn bán, đặt nhà học” …

3. Theo nhà biên khảo Nguyễn Đình Đầu, trong “Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Hà Tiên (Kiên Giang - Minh Hải)” NXB Thành phố Hồ Chí Minh ở trang 96-97 có trích dẫn Đại Nam Nhất Thống chí như sau; về tỉnh Hà Tiên.

… “ Kẻ sĩ biết chữ, dân siêng làm ăn, quá nữa là người buôn bán … Tháng 8 có lễ rước nước, tháng 10 có lễ đưa nước (4). Họ đánh trống gãy hồ cầm. Lễ rước nước đưa nước cũng như ta gọi là “lụt đến lụt lui” vậy (5).

(4) ĐNNTC (trang 52-53)

(5) ĐNNTC-Sđd. Tỉnh An Giang trang 10.

Xem ba đoạn trích dẫn trên, ta hiểu được Hà Tiên trấn ngày xưa đã có nền văn hóa từ lâu đời vậy!

Từ năm 1736, sau khi kế tập sự nghiệp của cha, mạc Thiên Tích cùng với việc thành lập Tao đàn Chiêu anh Các, đã lập nhà Nghĩa học tại Trấn lỵ để đào tạo học sinh, và đã rất chú trọng đến con em nhân dân học giỏi nhưng nhà nghèo. Đây là nên móng đầu tiên về giáo dục ở Trấn Hà Tiên xưa (bao gồm các Tỉnh Kiên Giang, Cần Thơ cho đến Cà Mau).

Thời gian sau, một nhà chí sĩ cách mạng đất Hà Tiên là ông Nguyễn Thần Hiếu (trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, cùng thời với cụ Phan Bội Châu) đã mở lớp dạy học tại nhà ông (khu vực nhà truyền thống hiện nay). Rất tiếc lớp không kéo dài được lâu vì ông tham gia cách mạng, bị bắt ở Hồng Công và chết ở Hỏa lò Hà Nội năm 1924.

Nhà giáo, nhà thi sĩ Đông Hồ Lâm tấn Phác trước khi tham gia vào Ủy ban khởi nghĩa Tỉnh Hà Tiên trong cách mạng tháng 8/1945; đã mở một tư thục có tên gọi “Trí đức học xá” (khu vực nhà lưu niệm Đông Hồ hiện nay)

 

Phần hai:

* Hà Tiên và việc dạy-học trong giai đoạn bị Pháp cai trị đến Cách mạng Tháng 8/1945.

1. Sau khi chiếm hai tỉnh Vĩnh Long, An Giang mà rất ít tốn công sức bởi ý kiến giao thành cho giặc của kinh lược sử Phan Thanh Giản. Ngày 24 tháng 6 năm 1867 Hà Tiên lọt vào tay quân Pháp.

Đến năm 1888, Pháp xóa bỏ tỉnh Hà Tiên và nhập vào tỉnh Châu Đốc.

Bốn năm sau, năm 1892 Pháp lập lại tỉnh Hà Tiên. Giữa giai đoạn này Pháp cử một phó tham biện từ Châu Đốc sang cai quản Hà Tiên.

Lúc này, trong việc dạy và học ở Hà Tiên, cả tỉnh chỉ có ba trường Tổng;  Gồm 01 ở tại tỉnh lỵ, tức khu vực 3 phường nội thị Hà Tiên hiện nay (tên gọi bấy giờ là Tổng Hà Thanh Bình) có 30 học sinh và 01 trường chữ Hán; 1 ở Hòn Chông có 25 học sinh; 1 ở Phú Quốc đông hơn một ít. Ở các xã có lớp chữ Hán, các lớp này đến cách mạng tháng 8 không còn nữa. Có thể coi đây là tiền thân của Trường tiểu học Đông Hồ bây giờ.

2. Cho đến sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, việc mở trường, lớp đã có bước tiến triển khá hơn; nhưng chủ yếu nhằm phục vụ cho mục đích cai trị của Pháp (tức sau khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ 1946).

* a. Khu vực Trường Tiểu học Đông Hồ hiện nay đã có 3 phòng xây (sẽ nói thêm ở sau).

Trở lại phần các trường 3 Tổng thuộc Tỉnh Hà Tiên trước 1945.

Tiền thân của trường học ở khu vực tỉnh lỵ là ngôi trường mà dân gian thời bấy giờ gọi là “trường nhà lá”, tọa lạc khu vực Công an thị xã hiện nay (thuộc đường Tô Châu) gần nơi trước 30/4/1975 gọi là Dinh Quận Trưởng (*). Trường học “Nhà lá” là ngôi trường được thành lập sau lớp học chữ Hán của ông Nguyễn Thần Hiếu (sau 1924). Đến nay chưa biết đích xác thời gian tồn tại của trường là bao lâu. Có một sự kiện liên quan là ông Lý Văn Đường, một thanh niên người Hà Tiên, dạy học tại Tân Châu-An Giang (lúc này Tân Châu thuộc tỉnh Châu Đốc), ông trở về thị xã Hà Tiên (lúc thời kỳ đó) dạy học và hoạt động chống Pháp. Trong một lần cùng một đồng chí khác trong phong trào Thanh niên Tiền phong, bị cảnh sát Pháp phát hiện, ông dạy và bị té (trong khu vực trường Mẫu giáo đường Phương Thành hiện nay) và chết sau đó!

Lúc này, năm 1881 Ông Nguyễn Thần Hiến (tham gia hoạt động cách mạng cùng với cụ Phan Bội Châu trong phong trào Đông kinh Nghĩa thục), có mở một lớp dạy chữ Hán (khu vực sau nhà truyền thống hiện nay trước Bệnh viện Đa khoa củ) (1/3).

Đến những năm 1930, Pháp bắt đầu xây dựng trường bằng gạch như đã nói ở (a) (3 phòng xây lợp ngói).

Cách mạng tháng 8/1945 thành công, năm sau (1946) Pháp từ Campuchia (KomponTrach) sau vài trận đánh thăm dò ở khu vực Xà xía, đã đưa quân tái chiếm Hà Tiên (ta có 01 liệt sĩ hy sinh – đ/c Sự - địa phương tổ chức tang lễ ở núi Tô Châu).

b. Thực hiện chủ trương chung của chính quyền cách mạng về “Tiêu thổ kháng chiến”. Các phòng học do Pháp xây dựng (tại khuôn viên Trường Tiểu học Đông Hồ hiện nay) dân chúng đã phá sập và đốt cháy cùng thời điểm với Thánh thất Cao đài ở Tô Châu và một bót lính ở khu vực thành 18. (nay là lễ đài) vì biết rằng Pháp sẽ dùng những cơ sở kiên cố này để làm nơi đánh phá ta (1/4). (Theo lời kể của Ông Nguyễn Ngọc Lầu nguyên là thầy giáo Trường Tiểu học Thái Lập Thành trước đây) hiện đang ở số 17 đường Tư Xương Thành phố Hồ Chí Minh.

Nói thêm: Với thành công của cách mạng Tháng 8/1945, ngày 28/8/1945 với sự lãnh đạo của các đồng chí đảng viên CSVN-Nhân dân Hà Tiên đã nổi dậy dành chính quyền. Ông Nguyễn Ngọc Lầu được cử làm Chủ tịch UBHC Hà Tiên. Sau ngày 30/4/1975, Ông là bộ trưởng văn phòng Thủ tướng chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (lúc ông Huỳnh Tấn Phát là Thủ tướng).

Khi hoàn thành việc tái chiếm nước ta nói chung, tỉnh Hà Tiên nói riêng, Pháp bắt đầu xây dựng lại trường học ở tỉnh lỵ có qui mô lớn hơn trước và số học sinh cũng đông hơn với mục đích như đã nói ở trên. Trường xây dựng có 4 phòng đối diện nhau trong khu vực trường Tiểu học Đông Hồ bây giờ.

c. Đến khi Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, năm 1957, Diệm đưa Hà Tiên thành một quận nhập với Rạch Giá thành lập Tỉnh Kiên Giang. Trường được đặt tên “Trường Tiểu học Bổ túc quận lỵ Hà Tiên”, chừng hai năm sau đổi tên là “Trường Tiểu học Thái Lập Thành” (2/4) (Thái Lập Thành là tên của viên Thủ Hiếu Nam phần trước đó) (một tên phản quốc).

Giai đoạn này trường có hai dãy phòng học đối diện nhau. Dãy nam có 6 phòng, dãy nữ có 5 phòng (có 1 phòng đôi). Tuy trong khuôn viên đó, do 1 Hiệu trưởng quản lý; nhưng phân chia thành trường nam trường nữ (trường nam ở dãy phòng truyền thống hiện nay-trường nữ phía đối diện) và có 1 học đường viện ở phía sau.

Về tổ chức các lớp ở bậc tiểu học, cũng như các trường lớn khác trong tỉnh; nhưng đặc biệt có 1 lớp “tiếp liên” dành giảng dạy cho học sinh thi rớt Đệ thất (lớp 6) lớp này học chung cả nam-nữ. Và cũng có thể nói số học sinh này  là “cứng cựa nhất”.

d. Chí đến tới 1963-1964, trường chỉ có 1 lớp Nhứt (lớp 5) nam, 1 lớp Nhất nữ và 1 lớp tiếp liên như đã nói ở trên. (1/5). Về việc lập lớp “Tiếp liên” khác với hai lớp kia (1 lớp nam, 1 lớp nữ) lớp “Tiếp liên” gồm cả học sinh nam và nữ thi rớt vào Đệ thất (lớp 6 hiện nay). Vả lại, nhiều xã có học sinh lớp Nhất (lớp 5) cũng về học tại Trường Trung học Hà Tiên, thời kỳ này Trường chỉ  tuyển 1 lớp Đệ thất (với 50 học sinh). Khoảng thời gian này có một điều đặc biệt là tuy trường nữ do các giáo viên nữ giảng dạy, trường nam do các giáo viên nam giảng dạy; nhưng lớp Nhứt nữ lại do Thầy Nguyễn Ngọc Lung phụ trách! (Cùng trường hợp có lúc Hiệu trưởng trường Mẫu giáo Hà Tiên do 1 thầy phụ trách – Thầy giáo Lưu Vĩnh Phúc).

e. Trường Tiểu học Cộng đồng Hà Tiên phù hợp với chủ trương do Bộ Giáo dục miền Nam (VNCH) lúc bấy giờ từ chương trình giảng dạy của các trường sư phạm cũng như học trình sách giáo khoa. Các trường học từ sơ cấp (lớp 1 đến lớp 3) đến tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5) được đổi tên gọi là: Trường Tiểu học Cộng đồng – Vì thế Trường bổ túc quận lỵ Hà Tiên, rồi Trường Tiểu học Thái Lập Thành được gọi là “Trường Tiểu học Cộng đồng Hà Tiên”.

Thời gian này, trường được xây dựng thêm một dãy gồm 5 phòng học lợp thiếc (dãy ngang) chương trình xây dựng nông thôn (nhưng đã bị ăn xén, ăn bớt vật liệu khá nhiều) và có mở hai lớp Trung học Nông lâm Súc. (Năm học 1971-1972, mở được hai năm thì các lớp Nông lâm Súc tách riêng và dời về học ở khu vực Địa tạng-Thạch Động).

Trong giai đoạn này có một sự kiện quan trọng đặc biệt là việc treo cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên đỉnh cột cờ của trường. (1/6) – Dưới thời Ngô Đình Diệm, cả miền Nam nói chung và quận Hà Tiên nói riêng. Mỗi sáng thứ hai đều tổ chức chào cờ trước khi làm việc. Tại quận lỵ Hà Tiên, buổi chào cờ được thực hiện tại sân trường Tiểu học Hà Tiên, với sự tham gia của tất cả công chức ở quận lỵ. Có một sáng thứ hai, khi công chức tập hợp đến sân trường, khi nhìn lên cột cờ đã thấy ai treo cơ lúc nào. Mà lại là cờ của Mặt trậm Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Muốn hạ xuống thì dây cờ đã bị cắt lúc nào không rõ! Buổi chào cờ bị hủy bỏ.

Qui mô và cơ cấu của trường từ thời gian này được giữ nguyên đến ngày 30/4/1975 (11).

Các thầy giáo của Trường Tiểu học Hà Tiên với cuộc cách mạng Tháng 8/1945 và việc giành chính quyền ngày 28/8/1945. Hòa nhịp với khí thế sôi nổi của địa phương Tỉnh Hà Tiên những ngày trước Cách mạng tháng 8/1945, các thầy giáo Trường Tiểu học Hà Tiên như Lý Văn Đường, Nguyễn Ngọc Lầu, Trần Văn Lễ (giáo Lễ), … đã vận động tổ chức nhân dân giành chính quyền và tổ chức lễ mít tinh tại sân Tennis sáng ngày 28/8/1945, hội thề tại chùa Giếng nước (chùa Phù Dung hiện nay).

Phần ba:

* Trường Tiểu học Hà Tiên từ sau ngày đất nước thống nhất và Hà Tiên được giải phóng (01/5/1975) cho đến năm 2010:

1. Giai đoạn 1975 – 1978:

Với khí thế sôi nổi của ngày miền Nam nói chung và Hà Tiên được giải phóng. Phong trào giáo dục tạm ngưng một thời gian cho đến ngày 15/10/1975, theo chủ trương chung, các trường bắt đầu khai giảng năm học lịch sử, năm học đầu tiên dưới chế độ cách mạng.

Lúc này, Hà Tiên là một tỉnh của Long Châu Hà. Tháng 6/1975, Ban tuyên giáo Tỉnh Long Châu Hà kết hợp ty Giáo dục mở một đợt sinh hoạt chính trị dân chủ hè cho tất cả cán bộ (BGH) và giáo viên Huyện Hà Tiên. Có 196 người tham dự (ngày 27/6/1975 báo cáo sơ kết). Có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian này là buổi lễ mừng ngày Quốc tế Lao động 1/5 được tổ chức ngày 05/4/1975 tại sân trường Tiểu học Thị trấn Hà Tiên (chỗ dãy ngang hiện nay) và lễ mừng Quốc khánh 2/9 cũng được tổ chức tại sân trường này, tổ chức đêm biểu diễn văn nghệ đầu tiên sau ngày giải phóng 30/4 do các giáo viên và học sinh cấp 1-2-3 Thị trấn Hà Tiên thực hiện cũng tại sân trường.

Như đã nói ở trên; Từ ngày 15/10/1975 trường bắt đầu hoạt động trở lại, đội ngũ lãnh đạo của trường bấy giờ gọi là Ban điều hảnh lâm thời (chỉ có cấp 1). Gần một năm sau đổi tên là Ban giám hiệu lâm thời, đến giữa năm học 1976-1977 gọi là Ban giám hiệu, tên gọi của trường là: Trường Phổ thông Cấp 1 Thị trấn Hà Tiên.

2. Giai đoạn 1978-1979: Trường Tiểu học Thị trấn Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây Nam:

Chỉ chưa đầy hai năm sau ngày 30/4/1975, bọn diệt chủng Pôn Pốt – Pông Sary đã có những hoạt động lấn chiếm đánh phá dọc tuyến biên giới Tây Nam nước ta; Trong đó Hà Tiên là địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp. Trong bối cảnh chung đó, từ năm học 1978, theo chủ trương chung của Huyện Ủy “dân ở đâu trường ở đó” toàn bộ học sinh, Cán bộ-giáo viên Trường Thị trấn Hà Tiên sơ tán sang xã Thuận Yên và nhập vào hoạt động chung với trường cấp I-II xã Thuận Yên (cả các lớp cấp 2 vừa tách ra từ trường cấp 2-3 Hà Tiên), các lớp cấp 3 được dời về Thị trấn Kiên Lương.

Giai đoạn này có mấy sự kiện đáng nhớ:

a. Vụ pháo kích: (Ba quả đạn ở ba địa điểm trong Thị trấn Hà Tiên) Vào trưa ngày 11/12/1977 có một quả rơi ngay giữa phòng thư viện và phòng Ban giám hiệu nay là phòng truyền thống đã làm chết một nữ giáo viên (đ/c Trương Thị Tuyết Mai) và con của đ/c (cháu Trương Nhựt Duật), 3 giáo viên bị thương là đồng chí Nguyễn Văn Hùng (sau là trưởng phòng Giáo dục Hà Tiên), Lâm Thành Phương (giáo viên anh văn) và Trương Tự Cường (chồng đồng chí Tuyết Mai).

b. Toàn bộ khuôn viên trường được trưng dụng làm bệnh viện quân y tiền phương và cổng trường cũng bị ủi sập trong thời gian này.

c. Toàn cảnh sơ tán chắc nhiều người còn nhớ vô cùng vất vả về nơi ăn chốn ở. Việc tổ chức vừa dạy học vừa bảo vệ học sinh ẩn núp khi có pháo kích, mượn cả đến đình chùa miếu để giảng dạy. Những giáo viên trường Thị trấn Hà Tiên từ một nơi thành thị, nay về nông thôn vẫn kịp phù hợp với cuộc sống ở địa phương mới và chan hòa, đoàn kết chia ngọt, xẻ bùi với các giáo viên địa phương. Có lúc 2 tháng vẫn không có lương, vậy mà không có một cán bộ giáo viên nào bỏ việc tiêu biểu như các nữ giáo viên Lý Ánh Nguyệt, Võ Ngọc Điệp, Bùi Ngọc Hà, Lâm Xuân Cúc, Trần Thị Xuân Lan, Vương Kim Muối, Lê Phước Lộc, Lâm Hồng Trung, Hà Văn Thanh và nhiều đồng chí khác nữa, thể hiện đúng quan điểm của Đảng bộ Huyện lúc bấy giờ là: ở đâu có dân, có học sinh là phải có lớp học, có giáo viên.

d. Về cái chết của ông bảo vệ trường Phạm Văn Nhan (thường gọi là Ba Nhan) cuộc họp Hội đồng giáo viên Trường Phổ thông cơ sở xã Thuận Yên ngày thứ 5 cuối tháng 8/1978, Ban giám hiệu nhà trường bàn luận về chuẩn bị cho ngày khai giảng, Ông Phạm Văn Nhan được cử đi điểm trường Hòa Phầu để vét vôi phòng học. Chẳng may đến khu vực gần Mũi Dông cây số 4 ông bị tai biến té xuống bờ biển rồi hôn mê sâu, được cấp cứu tại bệnh viện quân y Thuận Yên, sau đó chuyển về bệnh viên Tỉnh, nhưng đã qua đời sau đó.

Cái chết của một nữ giáo viên, một cháu bé và một công nhân viên đã gây nhiều buồn đau cho tập thể cán bộ giáo viên học sinh nhà trường (12). Cần phải nói thêm; cho đến nay, do nhiều yếu tố chủ quan (về phía nhà trường) và khách quan (chính quyền địa phương) gia đình của 2 giáo viên – công nhân viên này chưa được hưởng chế độ tử tuất hay chế độ trợ cấp nào.

e. Năm 1979, chiến tranh biên giới kết thúc. Một số ít giáo viên cùng ban giám hiệu trở về lại trường củ. Lúc này bàn ghế, cửa lớp học gần như bị mất hoàn toàn. Với sự nổ lực chung của địa phương và cán bộ giáo viên trường mở được 4 phòng học, mỗi phòng chỉ có từ 4 đến 6 bàn. Hiệu trưởng lúc này là thầy Hồ Văn Bằng (quê ở Mỹ Tho).

f. Đến năm 1980, với sự hồi phục của Thị trấn Hà Tiên trường được sự giúp đở của Chi bộ và Ủy ban Thị trấn Hà Tiên về kinh phí để tu sửa và xây dựng lại trường, phục dựng lại cổng trường như củ (có quốc huy), cửa lớp, bàn ghế học sinh, giáo viên, … Trường đi vào hoạt động có nề nếp. Năm 1981, trường vinh dự được Ty Giáo dục tặng cờ thi đua, là đơn vị xuất sắc (đợt thi đua đầu tiên-đơn vị lá cờ đầu).

Đặc biệt trong giai đoạn này có 2 sự kiện quan trọng và vinh dự cho trường là: Trường được cử 10 học sinh đón chào cố Tổng bí thư Lê Duẩn (tại sân bay trực thăng Pháo Đài), năm 1980 và năm sau 1982, tập thể cán bộ giáo viên nhà trường được đón tiếp và nghe nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục bà Nguyễn Thị Bình nói chuyện tại phòng họp của trường và đồng chí Bộ trưởng có phát biểu khi đó. “Tôi đi từ Bắc vào Nam, đến đây mới thấy đây là ngôi trường xứng đáng là trường” lúc đó trường có 78 đồng chí (cả ban giám hiệu và giáo viên).

Trong lúc này trường có 1 dãy nhà gồm 5 phòng để bố trí cho giáo viên chưa có nhà riêng để ở (nay là dãy phòng ốc phòng giáo dục và Hội nông dân Thị xã). Trong bước đầu khó khăn; Với sự nổ lực của tập thể Ban giám hiệu, giáo viên, học sinh và sự hỗ trợ của Sở Giáo dục, Trường đã thành lập một trung tâm thí nghiệm thực hành (nơi phòng đôi hội trường củ) và hoạt động có hiệu quả. Phòng Tiền vảng cũng được lập lại (13). Bàn thờ Tiền vãng – Cột cờ và hội “Cây mùa xuân”, cuộc vận động quyên góp xây dựng nhà trường – Đêm “bao gồm” 1 đoàn hát gây quỹ.

a* Bàn thờ Tiền Vãng được thành lập thời gian nào người viết bài nầy đến nay chưa tìm được tư liệu. Chỉ biết là có trước Niệm Sư từ ở khuôn viên Ty Giáo dục Kiên Giang củ.

Trong chiến tranh biên giới, bàn thờ Tiền vãng đã bị kẻ xấu lấy đi. Rất may được đồng chí Lộc Liêu (lúc đó là Thị đội trưởng Thị đội Thị trấn Hà Tiên) gặp, thu hồi và giao lại cho Ban giám hiệu trường.

b* Cột cờ của Trường (cột cờ cao to nhất trong các trường ở Kiên Giang) tiền thân là cột buồm của Tàu buôn Hải Nam cuối thời họ Mạc, tồn tại trong chiến tranh biên giới. Rất tiếc vài năm sau, khoảng 1991-1992 đã bị thay bằng cột cờ hiện nay. Đây là một điều rất đáng tiếc.

* Về hoạt động ngoại khóa của trường: tổ chức lửa trại; thả đèn gió, chiếu phim (ở Mỹ Đức, Tiên Hải …)

c* Trước 30/4/1975, gần tết, nhà trường đều có tổ chức Hội cây mùa xuân, vừa tạo sinh khí vui tươi, vừa khen thưởng các học sinh giỏi trong năm.

d* Cuộc vận động gây quỹ

Khi tái lập trường, sau chiến tranh biên giới – quan hệ giữa nhà trường, chính quyền địa phương và Hội CMHS khá khăng khít. Hội là nguồn lực ủng hộ mạnh mẽ cho nhà trường.

Đặc biệt có hai hoạt động quan trọng là: Hội đã cùng BGH (với sự đồng ý của chi bộ - UBND địa phương) đã tổ chức vận động gây quỹ tu bổ xây dựng cơ sở trường lớp, khen thưởng giáo viên, học sinh; Hiện vật được tặng gồm tiền mặt (hàng trăm ngàn) và vàng (nhiều chỉ vàng), Hội đã sử dụng xứng đáng vào mục đích đã nêu (năm 1979-1980).

Cùng thời gian đó, kết hợp cùng Hội, Trường đã tổ chức bao gồm 1 đêm hát gây quỹ. Nổi bật trong hoạt động nầy là các PHHS như: Ông Đoàn Hữu Tình, Ông 3 Ngô, 6 Cát, … Đặc biệt là Ông Phan Văn Huệ (lúc đó là Đội trưởng kiểm soát) nay là Chủ tịch Hội Nông dân Thị xã, rất nhiệt tình lo công tác bảo vệ an ninh trật tự cho đêm hát được thành công.

Lúc này trường có lớp 9  tên gọi của trường là “Trường Phổ thông cơ sở thị trấn Hà Tiên”, cho đến năm học 1988-1989 các lớp cấp 2 được tách riêng để thành lập trường cấp 2 Thị trấn Hà Tiên và trường lúc này có tên gọi là Trường cấp 1 Thị trấn Hà Tiên cho đến nay (2010).

Trải qua những năm tháng dài, đầy những sự kiện thăng trầm, lắng đọng, Trường Tiểu học Đông Hồ, cùng với nổ lực lớn lao của tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh nhiều thế hệ xứng đáng với vai trò một chứng nhân lịch sử có giá trị của địa phương Hà Tiên tiêu biểu là nơi có truyền thống đáng tự hào và tiếp tục phát triển cho mai sau.

Trên đây là một số sưu tập có ít nhiều tính cách đơn lẻ. Rất mong được sự nhiệt tâm đóng góp ý kiến của các bậc thức giả, quý thầy cô giáo lão thành để tư liệu càng đầy đủ hơn.

 Trọng thu năm canh dần

     Tháng 10 năm 2010

Người biên soạn

Hứa Nhứt Tâm

Phụ lục về các vị lãnh đạo Trường qua các thời kỳ:

a. Thời Pháp thuộc:

- Ông Đốc học Võ Văn Hổ

- Ông Đốc học Nhơn

- Ông Thanh tra-Đốc học Hà Văn Điền

b. Thời Ngô Đình Diệm:

- Ông Thanh tra Tiểu học hàng Tỉnh - Hồ Văn Chiếu

(Không có trực tiếp làm Hiệu trưởng)

- Ông Hiệu trưởng Trần Văn Hương (Ông Đốc Hương)

- Ông Hiệu trưởng Trần Hòa Hùng

- Ông Hiệu trưởng Lê Quang Thuyên

c. Từ sau 30/4/1975:

- Ban điều hành lâm thời Bà Lâm Ngọc Mai

- Ông Hiệu trưởng Hồ Văn Bằng

- Ông Hiệu trưởng Hứa Nhứt Tâm

- Ông Hiệu trưởng Hà Văn Thanh

- Ông Hiệu trưởng Lâm Hữu Quyền

- Bà Hiệu trưởng Dương Hồng Châu

- Bà Hiệu trưởng Huỳnh Ngọc Yến

- Ông Hiệu trưởng Lê Minh Nhựt